- 14/05/2013
- Đăng bởi: SOTRANS
- Danh mục: Thông tin chuyên ngành
Cơn bão suy thoái kinh tế năm 2009 đã ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Kinh tế biển, trong đó có vận tải biển cũng không là ngoại lệ. Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, thị trường tiêu thụ hàng hóa của các nước giảm sút, kéo theo là hàng hóa xuất nhập khẩu cũng bị giảm. Khi không có hàng thì đội tàu vận tải sẽ ngưng hoặc cắt giảm chuyến.

HẠ TẦNG KẾT NỐI CẢNG YẾU
Các nhà đầu tư cảng đều than phiền rằng, do Quốc lộ 51 trong thời gian qua đang thực hiện việc sửa chữa cùng với hệ thống giao thông đường bộ nối liền khu cảng với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm chưa hoàn chỉnh đã cản trở nguồn hàng đến cảng. Ngoài ra, do những khó khăn, vướng mắc giữa chủ hàng và các công ty dịch vụ… nên lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua cảng chưa cao. Các chủ hàng và công ty dịch vụ còn tâm lý e ngại khi chuyển đổi sang khu vực mới do sợ ảnh hưởng bởi thời gian, chi phí. Theo tính toán của các chủ hàng, việc vận chuyển container từ TP. Hồ Chí Minh về cụm cảng Cái Mép – Thị Vải đã đội chi phí lên khá nhiều vì phải qua nhiều trạm thu phí. Cùng với đó là hiện tượng ùn tắc giao thông, kẹt xe luôn rình rập trên Quốc lộ 51, mất nhiều thời gian khi đưa hàng ra, vào cảng.
Một thực tế nữa gây khó khăn cho các nhà đầu tư cảng khai thác nguồn hàng là các cảng biển ở TP. Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục chính sách cạnh tranh để nắm giữ lượng hàng. Vì vậy, lượng hàng dịch chuyển về cụm cảng Cái Mép – Thị Vải càng “nhỏ giọt” hơn.
CUNG ĐÃ VƯỢT CẦU
Hiện có một mâu thuẫn đang phát sinh trong quá trình tổ chức khai thác các cảng container tại Bà Rịa – Vũng Tàu và khu vực phía Nam. Tại khu vực TP. Hồ Chí Minh, hệ thống cảng container đang phát triển khá mạnh với các cảng như cảng Cát Lái, cảng VICT, cảng SPCT, cảng Hiệp Phước… Tổng công suất của hệ thống cảng này có khả năng đạt tới 7 triệu TEU/năm. Trong khi lượng hàng thông qua cảng toàn khu vực phía Nam năm 2012 mới đạt hơn 4 triệu TEU/năm và sẽ đạt mức 6-7 triệu TEU/năm vào năm 2020. Như vậy, chỉ riêng năng lực thông qua cụm cảng TP. Hồ Chí Minh đã vượt cầu của toàn khu vực phía Nam từ nay đến năm 2020.
Cụm cảng Bà Rịa – Vũng Tàu, đặc biệt tại Cái Mép – Thị Vải cũng đang đẩy nhanh tiến độ đầu tư, đã có 6 cảng container nước sâu đưa vào khai thác bao gồm cảng CMIT, cảng TCIT, cảng TCCT, cảng SP-PSA, cảng SITV và cảng container Cái Mép. Ngoài ra, hiện đang có 2 cảng container khác cũng đang trong quá trình đầu tư. 8 cảng nói trên có tổng công suất thông qua tại khu vực Cái Mép – Thị Vải là 12 triệu TEU/năm. Như vậy, đến năm 2020, công suất các cảng container trong nhóm cảng biển số 5 sẽ vượt quá nhu cầu thị trường.
Để hệ thống cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải trở thành một điểm đến tin cậy của các hãng tàu, cũng như trở thành một cửa ngõ cảng quốc tế, Tiến sĩ khoa học Võ Đại Lược cho rằng, Bà Rịa – Vũng Tàu cần có một cơ chế đặc thù cho việc đầu tư cảng biển. Nghĩa là cần có một khu kinh tế mở, khu kinh tế tự do, có các thể chế phù hợp với các nhà đầu tư nước ngoài và những nhà đầu tư trong nước muốn vươn ra nước ngoài. Hiện nay, tại cụm cảng Cái Mép – Thị Vải chưa có chính quyền cảng nên mỗi cảng có một phương thức quản lý riêng, làm cho hiệu quả, hiệu lực chưa cao. Theo kinh nghiệm của thế giới, mỗi hệ thống cảng đều thành lập một chính quyền cảng, thống nhất các đầu mối cảng, nên công tác điều hành rất hiệu quả. Nếu khắc phục những thiếu sót, Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ trở thành một trung tâm cảng biển của cả nước. Việc hình thành chính quyền cảng cũng sẽ góp phần hạn chế những tiêu cực trong hoạt động cảng biển hiện nay.
Nhằm giải quyết khó khăn, các nhà đầu tư cảng biển cũng phải cùng vào cuộc, bằng việc tìm kiếm đối tác, nguồn hàng. Các đối tác liên doanh nước ngoài cần tích cực hỗ trợ các cảng, vì khi hợp tác đầu tư, các đối tác nước ngoài (hãng tàu, tập đoàn hàng hải lớn) là niềm tin để các đối tác trong nước an tâm đầu tư dự án.
Theo VietnamShipper
