- 07/03/2013
- Đăng bởi: SOTRANS
- Danh mục: Thông tin xuất nhập khẩu
Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 2 ước đạt 7,5 tỷ USD, giảm 34,6% so với tháng trước; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 6,6 tỷ USD, giảm 38,3%.

Ts. Nguyễn Minh Phong – Chuyên gia kinh tế
Như vậy, tháng 2 tiếp tục ghi nhận mức xuất siêu lên tới 900 triệu USD. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong trao đổi xung quanh vấn đề này.
Ông có bình luận gì về số liệu xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2013?
Qua quan sát động thái xuất nhập khẩu của Việt Nam, đặc biệt là dấu ấn về xuất siêu thì tôi thấy có 2 điểm mừng và 3 điểm lo. Thứ nhất, xuất siêu trong 2 tháng qua là sự tiếp tục của xu hướng xuất siêu cuối năm 2012 với mức ngày càng gia tăng. Cụ thể, trong tổng xuất siêu 2 tháng là 1,7 tỷ USD, thì tháng 2 xuất siêu tới 900 triệu USD. Đây là sự thể hiện xu thế vững chắc nhất định của xuất siêu. Thứ hai, xuất siêu được ghi nhận bởi dấu ấn xuất khẩu hàng dệt may, có thể được coi là động lực quan trọng nhất với giá trị xuất siêu hơn 1 tỷ USD. Tiếp theo là mặt hàng điện tử, điện thoại di động. Điều này cho thấy cơ cấu xuất siêu của Việt Nam đã khá tích cực.
Tuy nhiên, hiện tượng xuất siêu trong 2 tháng qua cũng cho thấy những điểm cần phải lưu ý. Thứ nhất: xuất siêu tháng 2 cao hơn tháng 1, nhưng tổng xuất khẩu tháng 2 lại thấp hơn tháng 1 và thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, xuất khẩu tháng 2 chỉ bằng 90,8% so với cùng kỳ năm trước và thậm chí chỉ bằng 65,3% so với tháng 1 của năm 2013. Thứ hai: xuất siêu chủ yếu do khu vực FDI, còn khu vực nội địa thì rất mờ nhạt. Giá trị các mặt hàng xuất siêu không cao, chủ yếu là hàng gia công nhập khẩu. Thứ ba: xuất siêu này một phần phụ thuộc vào tác động của việc tăng xuất khẩu vàng và giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu sau Tết.
Theo ông, nguyên nhân nào khiến xuất siêu 2 tháng qua tăng cao?
Do nhóm hàng công nghiệp điện tử và công nghiệp chế biến (đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng xuất khẩu là mặt hàng điện thoại di động và linh kiện). Bên cạnh đó, một số mặt hàng nguyên liệu trong nước đã đáp ứng được nên giảm nhập khẩu, hoặc giá nhập khẩu một số mặt hàng giảm nên giảm giá trị kim ngạch. Ngoài ra, nhập khẩu 2 tháng qua giảm mạnh. Có 2 nhóm hàng, gồm hàng cần kiểm soát nhập khẩu (đá quý, kim loại quý, sắt thép, ôtô, xe máy… có kim ngạch nhập khẩu giảm rõ rệt) và hàng cần thiết nhập khẩu (nguyên liệu, phụ liệu cho các ngành sản xuất công nghiệp… so với cùng kỳ có tăng trưởng nhưng tăng chậm hơn). Do đó, góp phần kéo kim ngạch nhập khẩu giảm. Vì thế, có sự chênh lệch lớn giữa xuất khẩu và nhập khẩu 2 tháng qua.
Ông đánh giá về mức độ bền vững của con số xuất siêu?
Cần phân định ra 2 nhóm: xuất khẩu của DN FDI và nhóm DN 100% vốn trong nước. Xuất siêu thời gian qua chủ yếu rơi vào nhóm ngành hàng của các DN FDI. Đơn cử, 2 tháng đầu năm 2013, các DN FDI đã xuất siêu 2,97 tỷ USD, trong khi các DN trong nước nhập siêu 1,29 tỷ USD.
Chính vì thế, để đánh giá mức độ bền vững của xuất siêu phải căn cứ vào khả năng tiếp tục xuất siêu hay nhập siêu của 2 nhóm DN này. Với DN FDI (các mặt hàng như điện thoại di động, máy ảnh, máy tính… vẫn đang có đà phát triển rất lớn. Cho nên, khả năng đóng góp của khối DN này vào tăng trưởng xuất khẩu vẫn còn cao. Trong khi đó, bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế đã làm giảm tỷ trọng nhập siêu của các DN trong nước.
Có nhiều quan điểm cho rằng việc nhập siêu của 2 tháng đầu năm còn liên quan đến những khó khăn của DNtác động vào việc giảm nhập các nguồn nguyên vật liệu. Ông đánh giá thế nào về vấn đề này?
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, nhập khẩu tháng 2 của Việt Nam rất thấp, thậm chí giảm tới 38,3% so với tháng 1. Điều này cho thấy khó khăn của DN Việt Nam trong việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới. Bởi trên thực tế, khi nào DN tìm kiếm được thị trường vững chắc và lớn thì mới tăng nhập khẩu hàng nguyên vật liệu, phụ liệu để phục vụ sản xuất gia công. Việc giảm tỷ trọng nhập khẩu cho thấy DN Việt Nam (trừ dệt may) vẫn còn lúng túng trong việc tìm thị trường xuất khẩu mới. Đây như là một cảnh báo cho xuất khẩu của năm 2013 so với tổng kết quả nhập siêu cả năm của 2012.
Từ những cảnh báo như vậy thì cần phải có giải pháp cụ thể nào để đảm bảo xuất khẩu trong năm 2013 tăng được cả về lượng cũng như giá trị?
Bên cạnh yếu tố truyền thống, như: cần phải thúc đẩy mạnh hơn nữa tái cơ cấu kinh tế, đặc biệt là những nhóm xuất khẩu hàng chủ lực mà Việt Nam tham gia với giá trị gia tăng cao, cũng như làm chủ được nguồn nguyên vật liệu, phụ liệu, đồng thời chú ý đến khía cạnh về chất lượng đảm bảo có thể vượt qua hàng rào kỹ thuật của nước ngoài…, thì năm 2013 cần phải lưu ý vấn đề tỷ giá, vì năm nay có rất nhiều áp lực liên quan tới sự cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, gắn liền với xu hướng đồng tiền tại các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu bị giảm giá.
Theo Xa Luan
