Logistics: Thành công bắt đầu từ con người

lo-22.1-04Chỉ khi có được lực lượng lao động chuyên nghiệp, sản phẩm từ một lộ trình phát triển nhân lực khoa học, các doanh nghiệp logistics Việt Nam mới không quá lép vế trên sân nhà, và ngành Logistics Việt Nam mới có thể tận dụng các cơ hội trước mắt để phát triển bền vững, nâng cao vị thế và đem lại nguồn thu đáng kể…

Rộng mở cơ hội

Theo bảng xếp hạng logistics (LPI), Việt Nam xếp thứ 53 trong tổng số 155 nền kinh tế. Điều này chứng tỏ Việt Nam đang dần cải thiện một cách toàn diện việc phát triển hệ thống logistics, bao gồm kho vận, giao nhận, vận chuyển và phân phối.

Năm 2010, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan. Họ đang có những kế hoạch để khai thác những cơ hội lớn hơn tại thị trường tiềm năng này trong thời gian tới. Ông Mike Gildea, CEO khu vực Đông Nam Á cho biết: “Sự phát triển này hỗ trợ cho kế hoạch mở rộng hoạt động tại Việt Nam và là bước đà để thiết lập mạng lưới logicstics xuyên suốt đất nước.”

Tuy nhiên, một vấn đề đang đặt ra cho ngành logistics Việt Nam đó là đội ngũ cán bộ chưa thực sự phát triển tương xứng với sự phát triển.

Theo ông Marc Townsend, Giám đốc điều hành CB Richard Eliis Việt Nam, khi phân tích về sự phát triển của logistics tại Việt Nam đã chỉ ra một trong những điểm yếu nhất của ngành Logistics Việt Nam là đa số lực lượng lao động trong ngành chưa chuyên nghiệp, kỹ năng chưa đầy đủ, và nguyên nhân dẫn đến điều này là hệ thống đào tạo chuyên ngành quá yếu kém. Tương tự ý kiến này của ông Marc Townsend, nhiều chuyên gia Việt Nam trong ngành Logistics cũng cho rằng, hiện nguồn nhân lực ngành vừa thiếu vừa yếu và phát triển một cách tự phát. Các chuyên gia cho biết, mỗi năm ngành cần được cung cấp từ 1.000-2.000 lao động trong khi thực tế, hệ thống đào tạo chính thức không đáp ứng được số lượng này.

Cần phải nói rằng, giao nhận kho vận và điều hành logistics là một công nghệ mang tính chuyên nghiệp cao nên nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này cần được đào tạo một cách có hệ thống và được trang bị đầy đủ kiến thức như những nhà giao nhận quốc tế. Song, trên thực tế, các cán bộ, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực giao nhận, logistics hiện tại chủ yếu được đào tạo từ trường đại học Kinh tế và đại học Ngoại thương. Một số ít được bổ sung từ các trường giao thông, hàng hải và phần lớn kiến thức mà cán bộ công nhân viên trong ngành có được là từ thực tiễn khi làm đại lý hoặc đối tác cho các công ty nước ngoài chuyên làm dịch vụ này.

Năm 2008 vừa qua, Khoa kinh tế vận tải biển (Đại học Giao thông vận tải TP.HCM) đã lần đầu tiên trong cả nước mở chuyên ngành Quản trị logistics và vận tải đa phương thức. Chuyên ngành nhằm đào tạo những nhân sự có kiến thức chuyên sâu về việc tổ chức khai thác, kinh doanh, và quản lý trong lĩnh vực logistics ở mức độ quốc gia và quốc tế; có kiến thức về kinh doanh và quản lý vận tải đa phương thức, sử dụng hiệu quả hệ thống công nghệ thông tin vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp; có kiến thức về việc thiết kế mạng lưới logistics và xây dựng chuỗi cung ứng hiệu quả, dự báo nhu cầu khách hàng, phân tích và lập kế hoạch logistics cho các doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất.

Tuy nhiên, TS. Lê Phúc Hòa, Chủ nhiệm chuyên ngành Quản trị logistics và vận tải đa phương thức cho biết: “Vì logistics là một ngành còn mới mẻ ở Việt Nam và do điều kiện thực tế của nhà trường, nên khi triển khai ngành học mới này gặp nhiều khó khăn. Đó là, đội ngũ giảng viên của ngành hiện nay chủ yếu là giảng viên của Khoa kinh tế vận tải biển. Những giảng viên này chỉ được tham gia một số lớp tập huấn ngắn hạn ở nước ngoài, trong đó có bộ môn logistics. Đồng thời, nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy cũng còn rất thiếu, ngoài một số ít cuốn giáo trình logistics tiếng Việt, còn lại phải tham khảo tư liệu nước ngoài”.

Do đào tạo ở các cơ sở bất cập, nên việc đào tạo ở các doanh nghiệp, hiệp hội, các viện nghiên cứu, lẽ ra phải mang tính cập nhật và nâng cao, thường lại đi từ những khái niệm căn bản. và cũng chỉ doanh nghiệp lớn mới có thể tổ chức đào tạo bài bản hoặc hỗ trợ nhân viên nâng cao kiến thức, còn các doanh nghiệp khác chủ yếu là cho nhân viên “tự bơi”.

Cùng với tham vọng đưa ASEAN trở thành trung tâm logistics của khu vực châu Á-Thái Bình dương, được đề cập qua hội thảo chuyên đề về lộ trình hội nhập dịch vụ logistics trong tháng 8/2010, đang đặt Việt Nam trước cơ hội lớn để phát triển năng lực logistics thông qua các dự án cơ sở hạ tầng và tiến hành tự do hóa thương mại. Tuy nhiên, ttacs cả các ý kiến tại Hội thảo đều cho rằng: để cụ thể hóa viễn cảnh trên, cũng như để ngành logistics phát triển bền vững, thì nút thắt nhân lực, điểm yếu thường trực của ngành, cần được các cơ quan chức năng tìm giải pháp tháo gỡ ngay từ bây giờ.

Những bước tiến

Để đáp ứng nguồn cung lao động trong ngành, Viện Tiếp vận MGC, Viện Nghiên cứu và phát triển logistics đã và đang có những nỗ lực đáng kể trong việc mang đến các chương trình đào tạo, huấn luyện theo tiêu chuẩn quốc tế. Cùng với 2 viện này các trường Đại Học Hàng hải, Đại học Giao thông vận tải… cũng đều đặn mở các khóa đào tạo để giải tỏa cơn khát tri thức cho doanh nghiệp logicstics và những người quan tâm đến nghề với nhiều những điều mới mẻ và đầy lợi nhuận này.

Điểm đáng ghi nhận khác là trong năm 2010, Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn đã nhận được tài trợ của chính phủ Hà Lan cho dự án liên doanh có tổng vốn đầu tư 1,4 triệu euro với tập đoàn STC,tập đoàn chuyên đào tạo nhân lực hàng hải-logistics của Hà Lan để thành lập Công ty phát triển nguồn nhân lực Tân Cảng-STC, với cơ sở vật chất bài bản để đào tạo nhân lực logistics chất lượng cao, từ cấp cấp nhân viên đến cấp quản lý. Tuy nhiên, được biết, công ty sẽ chỉ đào tạo nhân sự cho hệ thống của Tân Cảng-Sài Gòn, như vậy, hiệu quả của dự án sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi một doanh nghiệp.

Ông David L. Yokeum, Chủ tịch Hiệp hội Logistics cho rằng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chỉ có một vài doanh nghiệp nhà nước như Vietrans, Viconship, Vinatrans… là tương đối lớn, nhưng năng lực vẫn chưa đủ mạnh để tham gia vào hoạt động logistics toàn cầu. Hiện các doanh nghiệp logistics Việt Nam chỉ đáp ứng khoảng 25% nhu cầu thị trường logistics trong nước. Giá cả dịch vụ logistics tại Việt Nam so với một số nước khác là tương đối rẻ, nhưng chất lượng chưa cao. Doanh nghiệp logistics của Việt Nam vẫn thiếu tính chuyên nghiệp, nên thời gian giao hàng chưa chính xác, chứng từ hóa đơn giao nhận còn có sai sót… Thêm vào đó, khả năng marketing kém, nguồn nhân lực đào tạo không chuyên..

Theo cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sau 2 năm nữa, Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn lĩnh vực dịch vụ, đến lúc đó các DN có vốn nước ngoài sẽ được cung cấp 100% dịch vụ logistics tại Việt Nam. Nếu các DN Việt Nam không đầu tư tạo dựng thương hiệu cho mình, thì sẽ bị các DN nước ngoài lấn át ngay trên sân nhà. Khi tham gia WCA, các DN logistics Việt Nam sẽ được chứng nhận là có đủ các tiêu chuẩn về tài chính, hệ thống vận tải, kho bãi… để tham gia thị trường logistics quốc tế.

Hiện tại, việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh của DN Việt Nam vẫn còn kém xa so với trình độ quốc tế. Nếu chỉ xét về khía cạnh xây dựng website, thì phần lớn website của DN Việt Nam chỉ đơn thuần giới thiệu về mình, về dịch vụ của mình, song thiếu hẳn các tiện ích mà khách hàng rất cần như công cụ theo dõi đơn hàng, theo dõi lịch trình tàu, theo dõi chứng từ… Đây là những yếu tố được các chủ hàng đánh giá rất cao khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics cho mình. Với kinh nghiệm của mình, WCA sẽ hướng dẫn DN logistics Việt Nam các giải pháp đầu tư tổng thể và chi tiết, có định hướng dài hạn..

Tuy vậy cũng phải khẳng định rằng dù, hiện Việt Nam đang rất được các tổ chức nước ngoài quan tâm thế nhưng điều quan trọng là mình cũng phải có đội ngũ nhân lực mạnh, am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ.. có như vậy, khi có sự chuyển giao đầu tư thì mới có thể nắm bắt và thực hiện tốt được… Điều đó vẫn phụ thuộc vào đào tạo, và vấn đề đào tạo vẫn phải được đặt lên hàng đầu.

Một thực tế hiện nay, việc phát triển nhân lực của ngành đang tồn tại mốt số hạn chế đáng tiếc đó là, dù đã cố gắng tăng đầu tư vào công tác huấn luyện, đào tạo, nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa phối hợp hiệu quả với các trường đại học để có thể đảm bảo “đầu ra” của các trường sẽ trở thành “đầu vào” có chất lượng cho doanh nghiệp. Sợi dây liên kết giữa doanh nghiệp và trường đại học liên quan còn tương đối mong manh, trong khi sự hợp tác này có thể mang lại lợi ích rất lớn cho cả hai bên. Nút thắt này tồn tại không chỉ do thiếu sự chủ động của cả hai bên, mà còn do cơ chế hợp tác chưa rõ ràng. Hay nói cách khác là cả hai bên chưa thực sự hiểu rõ mình sẽ được gì và cần phải làm gì…

Tại Hội thảo chuyên đề về Hội nhập ASEAN, ông DaveTan, giám đốc Diễn đàn các nhà chuyển phát nhanh khu vực châu Á-Thái Bình Dương cho rằng: Một trong những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân sẽ đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của ngành là phát triển nguồn nhân lực và các nước ASEAN cần xây dựng cơ chế cho hợp tác công-tư để tạo điều kiện cho khu vực tư đóng góp cho ngành logistics nhiều hơn.

Có thể thấy tình trạng khủng hoảng, thiếu nguồn nhân lực của ngành logistics Việt Nam hiện nay đã quá rõ ràng và đang ngày càng trở nên trầm trọng. Vấn đề cấp thiết đặt ra lúc này là làm thế nào phát triển chất lượng nguồn nhân lực logistics ở Việt Nam, đáp ứng hiệu quả yêu cầu phát triển của ngành cũng như tiến trình hội nhập của đất nước? Đây thực sự là một câu hỏi lớn, nhiều trăn trở nhưng không phải là không có câu trả lời. Đã đến lúc ngành đào tạo và hướng nghiệp ở Việt Nam cần mở ngành/chuyên ngành đào tạo logistics và chuỗi cung ứng theo đúng giáo trình và tiêu chuẩn quốc tế.

Hướng đi cho nguồn nhân lực logistics

Nếu để phát triển thương hiệu logistics Việt Nam, chúng ta cần có những thương hiệu đầu ngành làm đầu kéo cho ngành phát triển đúng hướng thì cũng có nhiều ý kiến cho rằng, hơn bao giờ hết sự thành công bắt đầu từ con người.Và để thật sự phát triển nhân lực logistics đồng bộ, hiệu quả, không thể phó mặc cho các hiệp hội hay trông chờ vào sự nỗ lực đơn lẻ của doanh nghiệp. Do đó, về dài hạn, ngành logistics cần một đầu tàu đủ mạnh để có thể tác động lên cơ chế và ra quyết định ở tầm chiến lược, khi mà, ở Việt Nam các hiệp hội do hạn chế về nguồn lực, cơ chế trực thuộc và tầm ảnh hưởng đều chưa đủ mạnh để giữ vai trò này. Nhất thiết, đầu tàu phải là các cơ quan liên ngành với đại diện cấp cao Bộ GTVT, Bộ Công thương… và các hiệp hội ngành như VIFFAS, Hiệp hội cảng biển Việt Nam, Hiệp hội đại lý và Môi giới hàng hải Việt Nam cùng các đơn vị liên quan khác. Và việc đầu tiên cần làm là xây dựng một lộ trình khả thi để nâng cao nhân lực cho ngành Logistics trong thời gian tới. Trong đó hết sức chú trọng đến số lượng và chất lượng cán bộ theo các hoạt động trong ngành, có chính sách hỗ trợ hiệu quả, thiết thực cho các cơ sở đào tạo nhân lực, bên cạnh đó là việc kêu gọi sự ủng hộ hỗ trợ từ các nước bạn nơi mà có sự phát triển vững mạnh dịch vụ logistics này.

Một điều dễ có thể nhận thấy, nếu khâu đào tạo căn bản được tiến hành có hiệu quả và việc đào tạo được tiến hành ở cả ba cấp độ cán bộ hoạch định chính sách, quản lý và nghiệp vụ cụ thể, thì sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho doanh nghiệp logistics. Và một nguồn nhân lực được đào tạo bài bản sẽ là chìa khoá thành công cho các doanh nghiệp kinh doanh logistics của chúng ta vốn còn đang rất nhỏ lẻ và thiếu kinh nghiệm “chiến trường”.

Về ngắn hạn các công ty, doanh nghiệp có thể thông báo cho Hiệp hội về nhu cầu đào tạo, các lĩnh vực quan tâm cũng như mời các chuyên gia kinh nghiệm đào tạo nội bộ doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hiện nay đang có kế hoạch đầu tư con người để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi và cung cấp dịch vụ có hàm lượng chất xám cao hơn. Đào tạo và tái đào tạo nguồn lực hiện có, thu hút lao động từ xã hội có trình độ đại học, cao đẳng chuyên ngành liên quan, thông thạo ngoại ngữ, có kiến thức địa lý, ngoại thương, cập nhật thường xuyên kỹ thuật mới trong nghiệp vụ giao nhận vận tải quốc tế. Các công ty cần có chương trình hỗ trợ sinh viên thực tập, thuyết trình về thực tiễn hoạt động ngành hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới cho sinh viên. Các công ty phải có đóng góp vật chất cụ thể cho đào tạo, hỗ trợ chuyên môn cho các trường nếu muốn sử dụng sinh viên tốt nghiệp từ những trường này.

Thực hiện tốt các giải pháp có tính định hướng nói trên sẽ góp phần tăng cường xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics ở nước ta. Một nguồn nhân lực tốt, chất lượng sẽ là tiền đề cho sự phát triển và tăng cường mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập, qua đó góp phần thúc đẩy ngành kinh doanh giao nhận vận tải Việt Nam vững vàng phát triển, sánh vai cùng các cường quốc logistics trên thế giới. Đào tạo nhân lực cho ngành logistics hôm nay chính là một bước chuẩn bị quyết định cho ngành này phát triển mạnh mẽ trong tương lai.

Theo Thuongmai