- 31/03/2011
- Đăng bởi: SOTRANS
- Danh mục: Thông tin chuyên ngành
Tình hình khủng hoảng Nhật Bản, xuất phát từ thảm họa thiên nhiên, đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Những mặt hàng nào của Việt Nam chịu sức ép từ sự thu hẹp thị phần tại Nhật Bản? Bài viết sẽ phân tích các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu với Nhật có giá trị kim ngạch lớn để xem xét và đánh giá tác động tới các mặt hàng này.
Tình hình thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam trong thời gian qua có xu hướng tăng lên rõ rệt. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong năm 2010 đạt hơn 16,7 tỷ USD, tăng trưởng 21,68% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu. Tuy nhiên, với diễn biến khủng hoảng như hiện nay, quy mô thương mại với Nhật Bản có thể sẽ phải chịu ảnh hưởng khá mạnh. Các công ty Nhật có thể dừng đơn đặt hàng từ phái đối tác Việt Nam mà không cần bồi thường vì lý do bất khả kháng – thiên tai. Như vậy, phần thiệt hại sẽ được chia sẻ nhiều hơn cho phía đối tác Việt Nam, bao gồm cả các công ty xuất khẩu và nhập khẩu.
Xem xét số liệu các mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản có thể thấy, ngành hàng dệt may có giá trị tuyệt đối về kim ngạch lớn nhất (hơn 1,1 tỷ USD), tiếp theo sau là thủy sản, máy móc thiết bị và dây cáp điện, gỗ và sản phẩm gỗ, sản phẩm điện tử, phương tiện vận tải và phụ tùng. Những ngành này sẽ chịu ảnh hưởng đầu tiên và giá trị xuất khẩu có thể giảm.
Tuy nhiên, nếu xét theo tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trên tổng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó, thì ngành có tỷ trọng lớn nhất là dây điện và cáp điện (tới 70,17%), tiếp theo là máy móc (29,55%). Hàng dệt may chiếm 10,3 % thị trường xuất khẩu; hàng thủy sản chiếm 17,82%. Những ngành này cũng có khả năng phải chịu sự thu hẹp thị phần từ Nhật.
Thực chất, chúng ta còn phải xem xét cụ thể tới tính chất của từng loại hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Nhật để đánh giá tác động tới một mặt hàng xuất khẩu. Qui mô xuất khẩu có giảm hay không còn phải phụ thuộc vào:
(1) Thị trường của loại hàng hóa và các công ty hoạt động có nằm ở khu vực bị thiệt hại bởi thiên tai hay không?
(2) Đặc điểm tính chất của loại hàng hóa. Chẳng hạn như với mặt hàng thủy sản thì không thể tích trữ lâu được, một khi các đơn hàng từ Nhật bị hủy bỏ thì doanh nghiệp Việt Nam buộc phải tìm nơi tiêu thụ khác và chấp nhận giá rẻ. Đối với các mặt hàng như thiết bị, linh kiện điện tử, các doanh nghiệp Nhật có thể tiếp tục trữ hàng ở các nhà máy khác xung quanh nước Nhật hoặc trên khắp thế giới, vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam có thể không phải chịu ảnh hưởng lớn.
Ngoài ra, quá trình tái thiết khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai sẽ kích thích nhu cầu nhập khẩu của Nhật, đặc biệt là hàng hóa thiết yếu như: năng lượng, sản phẩm từ hóa chất, các nhu cầu phẩm phục vụ cho cuộc sống… Vì vậy, qui mô xuất khẩu các mặt hàng này cũng có thể được mở rộng, ít nhất là trong trung và dài hạn.
Qui mô nhập khẩu từ Nhật Bản có thể sẽ không chịu ảnh hưởng, bởi các loại hàng hóa nhập khẩu đều là những nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất ở Việt Nam. Trong đó, máy móc thiết bị, linh kiện, sắt thép và các sản phẩm từ sắt thép là những mặt hàng có giá trị nhập khẩu cao và chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường nhập khẩu từ các nước khác.
Tuy nhiên, với một đồng yên mạnh, hơn nữa, nhu cầu nội địa của Nhật Bản sẽ tăng, nên giá các loại hàng hóa này có thể tăng cao. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm thị trường thay thế, như Trung Quốc chẳng hạn. Trong trung và dài hạn, với các biện pháp hồi phục kinh tế, đồng yên vẫn sẽ tiếp tục yếu đi để hỗ trợ cho ngành xuất khẩu, động lực thúc đẩy kinh tế của Nhật Bản.
Như vậy, tùy theo từng loại mặt hàng mà quy mô xuất, nhập khẩu của Việt Nam với đối tác Nhật Bản có thể phải chịu tác động tiêu cực. Nhưng nếu nhìn về cuối năm 2011, với các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu, và điều kiện giá thế giới vẫn biến động như hiện tại, cùng với tình hình Nhật Bản, thì những ngành xuất khẩu có lợi thế của Việt Nam sẽ là sản phẩm nông nghiệp và hàng tiêu dùng thiết yếu.
|
(USD) |
2009 |
2010 |
Tăng trưởng (%) |
|
Xuất khẩu |
6.291.809.820 |
7.727.659.550 |
22,8209 |
|
Nhập khẩu |
7.468.091.543 |
9.016.084.835 |
20,7281 |
