- 01/07/2010
- Đăng bởi: SOTRANS
- Danh mục: Thông tin chuyên ngành
Ở Việt Nam, cứ 100 cây số vuông đất liền thì có 1 km chiều dài đường bờ biển. Đây là “chỉ số lãnh thổ” quan trọng cho việc phát triển cảng và hàng hải, cũng như các khu kinh tế (KKT) hướng biển. Biển không chỉ là yếu tố cực kỳ trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế quốc dân và sự nghiệp bảo đảm an ninh quốc phòng đất nước mà còn là tiền đề tiên quyết để ngành kinh tế hàng hải và các dịch vụ đi kèm trở thành những ngành kinh tế biển mũi nhọn.
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã nhấn mạnh: “Biển có ý nghĩa to lớn để chúng ta phát triển và mở rộng giao lưu quốc tế. Tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển của nước ta có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước…”. Vậy, làm thế nào để phát huy các tiềm năng kinh tế biển, xứng tầm với các yếu tố thiên thời địa lợi mà đất nước này đang sở hữu: mặt hướng biển Đông, lưng tựa Tiểu vùng sông Mekong và Hành lang kinh tế Đông – Tây?
Thương hiệu biển và kinh tế biển Việt Nam
Các thế hệ người Việt, từ bao đời đã gắn bó với biển và có cuộc sống lệ thuộc vào biển cả, đặc biệt đối với người dân sống ở các huyện ven biển và hải đảo vốn chiếm 17% tổng diện tích và ước trên 20% dân số cả nước.
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã chỉ rõ, phải phấn đấu để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh lên từ biển và giàu lên từ biển; và đến năm 2020, kinh tế biển Việt Nam phải đạt 53 – 55% GDP và chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Điều này thể hiện rõ nhận thức thấu đáo và khoa học của Việt Nam về vị trí quan trọng của kinh tế biển, trong đó có vai trò của các cảng biển và của các khu kinh tế biển. Lịch sử đã cho thấy, sự hình thành và phát triển các khu kinh tế lớn, quá trình đô thị hóa vùng ven biển đều gắn liền với nhịp độ phát triển của các cảng biển như: Vân Đồn thời xa xưa (Quảng Ninh), Hải Phòng, Hạ Long, Đà Nẵng, Vũng Tàu… và gần đây là Dung Quất, Quy Nhơn…
Theo các đánh giá, kinh tế biển của Việt Nam cho đến nay phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa có sức cạnh tranh cao và chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế. Điều gì đã làm nên sự phát triển thần kỳ của nhiều quốc gia trong nhiều thập niên gần đây, nếu không phải là xây dựng và quảng bá thương hiệu quốc gia? Từ những nước công nghiệp phát triển lâu đời như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật Bản… đến các quốc gia mới nổi ở Châu Á như Hàn Quốc, Singapore… đều có các chiến lược quảng bá thương hiệu quốc gia. Và đây là những quốc gia có kinh tế biển phát triển. Giải thích nguyên nhân vì sao biển và kinh tế biển của Việt Nam chưa có chỗ đứng thực sự trên thương trường quốc tế, Thứ trưởng thường trực Bộ tài nguyên và môi trường Nguyễn Văn Đức cho rằng: “Chúng ta chưa chuẩn bị tốt và đồng bộ cho việc xây dựng thương hiệu biển quốc gia, thương hiệu cho các ngành, lĩnh vực kinh tế biển cho các địa phương ven biển, các doanh nghiệp biển, các sản phẩm biển cũng như các chỉ dẫn địa lý trên các khu vực biển của Việt Nam… Tôi cho rằng, cần phải làm cho cái tên “Biển Việt Nam”, tên các doanh nghiệp và các sản phẩm liên quan đến biển trở thành những cái tên lớn, quen thuộc và hình ảnh của Việt Nam phải dần đi vào sâu vào tiềm thức của người tiêu dùng trong nước và quốc tế”. Muốn được như vậy, theo Thứ trưởng Đức, cần phải thay đổi cơ bản về nhận thức và hành động, không chỉ là sự nỗ lực mà còn cần lòng tự hào, tự trọng vì một dân tộc có biển, mạnh giàu từ biển.
Xây dựng trục kinh tế biển hùng mạnh miền Trung
Biển là cái nôi và là yếu tố quyết định để tồn tại sự sống trên trái đất. Điều này đã được lịch sử hình thành sự sống và lịch sử nhân loại chứng minh, bởi 3/4 diện tích địa cầu này là nước. Vì vậy, có thể khẳng định, kinh tế biển là lĩnh vực kinh tế được hình thành, tồn tại và phát triển từ tác động trực tiếp hay gián tiếp của biển.
Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung (VKTTĐMT), đầu tàu của toàn miền Trung, theo quyết định của Chính phủ, sẽ được xây dựng thành trung tâm trung chuyển, giao thương và chế biến quốc tế. Toàn vùng có diện tích khoảng 27.884 km2, dân số khoảng 6,5 triệu người (năm 2008) và dự báo đến 2025 sẽ là 8,15 triệu người, có chuỗi đô thị đang phát triển nằm trải dài trên 558 km bờ biển là Huế, Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn cùng các khu kinh tế lớn như Chân Mây – Lăng Cô, Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội. Đây là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa và an ninh quốc phòng, là mặt tiền của đất nước, tiểu vùng sông Mekong và cả Châu Á – Thái Bình Dương.
Đầu tư nước ngoài vào miền Trung những năm gần đây tăng liên tục. Nếu như năm 2000, tổng vốn đầu tư thu hút vào đây chỉ có 110,45 triệu USD, đến năm 2005 đạt 464,79 triệu USD thì năm 2006 đã đạt 1 tỉ 849 triệu USD và năm 2007 đã đạt đến con số 3 tỉ 300 triệu USD. Về thực trạng liên kết hiện nay, các địa phương trong VKTTĐMT đang nỗ lực bứt phá, hình thành những trung tâm kinh tế mới, phát triển năng động và đa dạng, xây dựng và thực hiện những kế hoạch, chiến lược riêng cho từng tỉnh, chủ yếu hướng vào khai thác lợi thế tự nhiên.
Tuy nhiên, tại vùng này, cơ chế điều hòa phối hợp với nhau chưa rõ, chưa phát huy hiệu lực trong thực tế. Mỗi tỉnh đều đặt mục tiêu trở thành “trung tâm”, “cửa ngõ”, “động lực thúc đẩy”,… trong khi việc chuyên môn hóa, phối hợp và phân công giữa các tỉnh chưa rõ nét. Ông Lê Danh Vĩnh, Thứ trưởng Bộ Công thương đã đề cập đến vấn đề này như sau: “Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các tỉnh miền Trung không thể biến mình thành những “ốc đảo cô độc” được! Bên cạnh việc mỗi tỉnh phải nỗ lực trong việc phát triển kinh tế xã hội, thì việc hướng đến liên kết vùng để khơi thông các nguồn lực, tạo đà phát triển nhằm tạo ra cộng đồng kinh tế hùng mạnh là rất cần thiết”. Cùng quan điểm với Thứ trưởng Lê Danh Vĩnh, chuyên gia cao cấp – TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW, đã nhấn mạnh: “Trong thực tế, có một tập hợp các tỉnh độc lập với nhau, chứ chưa hình thành vùng như một chính thể hữu cơ, bổ sung cho nhau, liên kết với nhau. Vì vậy, trước mắt, cần tập trung liên kết vùng tại một trường đại học có quy chế hoạt động được các tỉnh tham gia chuẩn y, cung cấp thông tin kinh tế, chính sách của các tỉnh, thành trong vùng. Song song, thực hiện liên kết thông suốt về vận tải, điện, viễn thông; phối hợp giữa hệ thống cảng và sân bay, trong sự thông suốt đó, Chính phủ thực hiện vai trò điều hòa, phối hợp theo vùng”. Ông Doanh cho rằng, liên kết bền vững chỉ có thể hình thành và phát triển trên cơ sở tự nguyện, tín nhiệm lẫn nhau và hợp tác. Các DN lớn có thể chủ động làm hạt nhân thúc đẩy liên kết, không phân biệt thành phần kinh tế, lựa chọn một số mặt hàng, ngành hàng có lợi thế có khả năng đạt hiệu quả kinh tế cao.
Theo Vietnam Logistics Review.
