- 01/07/2010
- Đăng bởi: SOTRANS
- Danh mục: Thông tin chuyên ngành

Miền Trung không thể dàn hàng ngang tiến ra biển lớn, càng không thể mỗi tỉnh lập một hải trình riêng và tự xuất phát từ chính cảng của mình. Đã có cơ chế mở cho vùng đất này nhưng các thương thuyền vẫn loay hoay kết nối…
Tháng 9-2004, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (KTTĐ) gồm 5 tỉnh và thành phố là: Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và những lợi thế của mỗi tỉnh, thành để kết hợp lại và tạo nên một trong những vùng kinh tế năng động của cả nước. Trong chiến lược và tầm nhìn đó, Đà Nẵng được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung-Tây Nguyên, là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về vận tải nội địa và trung chuyển quốc tế.
Quyết định 1022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Trung Trung bộ đến năm 2020 đã khẳng định, Cảng Đà Nẵng là một thương cảng tổng hợp, cảng container, cảng khách quốc tế trọng điểm ở khu vực miền Trung nhằm phục vụ giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế, du lịch cho các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên, đồng thời thực hiện tiếp chuyển hàng quá cảnh của một số vùng thuộc các nước Lào, Myanmar, Thái Lan qua tuyến Hành lang kinh tế Đông-Tây.
Thuyền trưởng và con tàu
Chủ trương chọn miền Trung là đã có những tính toán lâu dài. Chọn Đà Nẵng làm trung tâm động lực cũng đồng nghĩa với việc giao cho Đà Nẵng trọng trách thuyền trưởng. Đây cũng là vinh dự lớn và cũng là thách thức lớn. Thách thức bởi lẽ, mảnh đất này hẹp, trải dài thành một chuỗi sàn sàn, không có một trung tâm hội tụ và chi phối như Hà Nội ở miền Bắc, TP. Hồ Chí Minh ở miền Nam. Thách thức bởi lẽ, tư tưởng cục bộ địa phương đã dẫn đến việc mạnh ai nấy làm. Chỉ tính riêng hệ thống cảng biển và sân bay đã thấy rõ sự dàn hàng ngang cùng tiến ở khu vực này. Từ chỗ chỉ có 2 cảng chính là Đà Nẵng và Quy Nhơn trong những năm 90 của thế kỷ trước, đến nay cơ bản tỉnh nào cũng có cảng và đều là cảng nước sâu. Bên cạnh Cảng Quy Nhơn là Cảng Nhơn Hội phục vụ cho khu kinh tế (KKT) Nhơn Hội, cách đó gần 200 km là Cảng nước sâu Dung Quất phục vụ cho KKT Dung Quất, ra phía bắc chưa đầy 40 km là Cảng nước sâu Kỳ Hà, phục vụ cho KKT mở Chu Lai, nhích ra khoảng 30 km là Cảng Tiên Sa-Đà Nẵng và tiếp tục ra khoảng 50 km là Cảng nước sâu Chân Mây (TT-Huế). Vì cảng nào chỉ phục vụ cho tỉnh đó mà nguồn hàng lại hạn chế nên đã dẫn đến việc những cảng mở sau công suất khai thác rất thấp. Trớ trêu thay, trong chiều dài chưa đến 400 km bờ biển mà mật độ cảng dày đặc như vậy, thử hỏi cảng nào là trung tâm cho khu vực, nguồn hàng tập trung về đầu mối nào để xuất nhập khẩu? Sân bay cũng vậy, chỉ cách nhau một đường hầm Hải Vân mà Đà Nẵng và TT-Huế có 2 sân bay quốc tế, trong khi lượng khách trong các chuyến bay nội địa từ 2 sân bay này đến Hà Nội, TP. HCM và ngược lại vẫn không gia tăng mạnh. Việc mở thêm hai sân bay Chu Lai (Quảng Nam), Phù Cát (Bình Định) khiến lượng khách bị chia nhỏ ra, không mang lai hiệu quả thương mại cho ngành hàng không.
Trước những thách thức đó, vai trò của thuyền trưởng được xác định là phải tạo được sợi dây liên kết vùng bền vững. Để làm được điều này, đòi hỏi sự chia sẻ ưu thế, giảm bớt cạnh tranh trực diện, theo nhận định của các chuyên gia kinh tế và các nhà hoạch định chính sách. Chẳng hạn, Thừa Thiên-Huế và Quảng Nam có lợi thế về du lịch, lợi thế về di sản văn hóa thế giới thì phát triển thiên về du lịch. Bình Định và Quảng Ngãi tập trung vào sản xuất công nghiệp, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Còn Đà Nẵng với lợi thế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực, cần phải phát triển thành một trung tâm dịch vụ của cả vùng. Khi có được sợi dây liên kết vùng bền vững, việc điều phối hoạt động cho vùng KTTĐ miền Trung sẽ tập trung hơn.
Gắn kết chuỗi logistics
Phong Điền.
Theo Vietnam Logistics Review.
