Xuất khẩu thủy sản giảm – những tồn tại và giải pháp khắc phục

thuy_sanTheo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, 11 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu thủy sản sụt giảm 16,85% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, đạt trên 6 tỷ USD. Ước XK thủy sản tháng 12 đạt 531 triệu USD, đưa giá trị XK năm 2015 đạt 6,53 tỷ USD, giảm 16,5% so với cùng kỳ năm 2014.

 

Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất tiêu thụ các loại thủy sản của Việt Nam, chiếm 19,96% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước, đạt 1,2 tỷ USD trong 11 tháng, sụt giảm 23,92% so với cùng kỳ năm ngoái; tiếp đến thị trường Nhật Bản với 946,22 triệu USD, chiếm 15,77%; giảm 13,96%; Hàn Quốc đạt 516,88 triệu USD, chiếm 8,61%, giảm 13,75%; Trung Quốc 405,76 triệu USD, chiếm 6,76%, giảm 6,37%.

Bộ trưởng Bộ NN-PTNT khẳng định, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề khiến sản xuất thủy sản không đạt yêu cầu so với mục tiêu đề ra. Đặc biệt, ngành Thủy sản đang tồn tại hai vấn đề lớn:

Thứ nhất là khả năng cạnh tranh của sản phẩm, điều này phụ thuộc vào giá thành và chất lượng. Muốn phát triển hơn nữa ngành Thủy sản phải giảm giá thành và nâng cao chất lượng, nếu không giảm được giá thành thì sẽ bị thụt lùi.

Nếu như năm 2012 sản lượng giảm vì dịch bệnh thì năm nay sản lượng giảm lại do thị trường. Không phải vì thị trường thế giới co lại mà chính là sản phẩm Việt Nam không cạnh tranh được. Nếu chúng ta tăng sản lượng nuôi trồng thêm nữa cũng không xuất khẩu được vì lỗ. Điều quan trọng hiện nay là phải điều chỉnh cơ cấu, nâng cao hiệu quả.

Thứ hai là tính bền vững trong khai thác. Chúng ta phải làm sao để ứng phó với tình hình ô nhiễm vì ô nhiễm góp phần dẫn tới dịch bệnh. Còn trên biển, với cơ cấu tàu thuyền, cung cách đánh bắt như hiện tại thì hiệu quả ngành khai thác sẽ giảm, giảm sản lượng, giảm thu nhập từ khai thác.

Trước những tồn tại đó, năm 2016, ngành Thủy sản cần tiếp tục tăng cường những giải pháp phù hợp để đối phó với khó khăn đặt ra, đặc biệt đối phó với những khó khăn về thị trường xuất khẩu và môi trường. Đi đôi với đó là tăng cường thực hiện các giải pháp mang tính nòng cốt nhằm tạo sự chuyển biến mạnh trong toàn ngành, đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành Thủy sản.

Mấu chốt là chuyển giao khoa học kỹ thuật
 

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho biết, kế hoạch trong năm 2016, sẽ triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng về phát triển nuôi trồng thủy sản trong chiến lược phát triển ngành, trong đó có 8 dự án giống giai đoạn 2016-2020; xây dựng và triển khai hiệu quả Đề án tôm – lúa.

Song song đó, tiếp tục rà soát các quy hoạch, kế hoạch, quy định về nuôi trồng thủy sản, kiểm tra phân loại cơ sở sản xuất kinh doanh, quản lý giống thủy sản, quản lý cá tra, thức ăn, chế phẩm sinh học, chất xử lý cải tạo môi trường. Đi đôi với đó là tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu, tránh trú bão theo quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; triển khai thực hiện quy hoạch phát triển khai thác xa bờ toàn quốc đến năm 2020, định hướng 2030.

Bên cạnh những giải pháp quan trọng đó, theo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT, để ngành Thủy sản khắc phục những tồn tại và phát triển bền vững trong hội nhập, giải pháp mấu chốt vẫn là chuyển giao khoa học kỹ thuật để giảm giá thành sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Đối với vấn đề áp dụng khoa học kỹ thuật, Bộ trưởng yêu cầu Tổng cục Thủy sản tổng rà soát chương trình Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGap) để điều chỉnh chính sách này hợp lý hơn. Khi áp dụng VietGap trong nuôi trồng thì sẽ tăng hàm lượng giá trị gia tăng. Thực tế, thời gian qua chương trình này hơi phức tạp, hơi “hàn lâm” nên khó đi vào cuộc sống, khó áp dụng và chi phí thực hiện cao.

Ngoài ra, để giảm giá thành trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Vũ Văn Tám cũng cho rằng, tháng 6 là thời kỳ tôm Ấn Độ thu hoạch rộ nên các doanh nghiệp nhập khẩu nhiều từ Ấn Độ, trong khi đó tháng 7 tôm Việt Nam mới thu hoạch, do đó vào tháng 7 giá tôm Việt Nam bị giảm giá mạnh. Vì vậy, kinh nghiệm năm 2016, kết hợp với diễn biến thời tiết, Tổng cục Thủy sản sẽ chỉ đạo điều chỉnh mùa vụ thả sớm hơn năm trước một tháng để tranh thủ thị trường. Đồng thời, phát triển mạnh tôm sinh thái và tôm công nghệ cao.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu thủy sản 11 tháng đầu năm 2015

ĐVT: USD

 

Thị trường

 

11T/2015

 

11T/2014

+/- (%) 11T/2015 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

6.000.867.317

7.217.269.320

-16,85

Hoa Kỳ

1.197.579.750

1.574.110.834

-23,92

Nhật Bản

946.223.575

1.099.764.866

-13,96

Hàn Quốc

516.881.369

599.286.053

-13,75

Trung Quốc

405.755.007

433.366.184

-6,37

Thái Lan

195.270.248

165.580.982

+17,93

Anh

181.409.761

168.012.209

+7,97

Canada

176.441.807

243.236.888

-27,46

Đức

175.702.349

217.363.133

-19,17

Australia

158.971.933

213.454.845

-25,52

Hà Lan

155.319.778

198.074.378

-21,59

Hồng Kông

134.392.270

135.107.410

-0,53

Đài Loan

109.179.350

131.697.343

-17,10

Italia

106.941.126

127.671.028

-16,24

Bỉ

101.023.697

134.673.413

-24,99

Mexico

99.864.600

108.292.377

-7,78

Pháp

99.040.744

131.361.390

-24,60

Singapore

93.707.988

97.367.448

-3,76

Tây Ban Nha

84.644.947

112.383.531

-24,68

Nga

73.327.157

95.065.568

-22,87

Braxin

67.282.314

118.538.889

-43,24

Malaysia

66.526.567

64.986.195

+2,37

Philippines

65.873.824

61.058.307

+7,89

Ả Rập Xê út

63.741.699

60.749.149

+4,93

Ai Cập

60.222.710

67.737.145

-11,09

Colombia

57.920.461

65.825.921

-12,01

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

49.780.727

56.678.419

-12,17

Bồ Đào Nha

40.914.706

50.377.401

-18,78

Israel

36.520.862

39.291.521

-7,05

Thuỵ Sĩ

34.569.849

63.541.164

-45,59

Đan Mạch

27.379.538

37.532.590

-27,05

NewZealand

20.220.910

20.239.735

-0,09

Ấn Độ

18.165.771

14.975.243

+21,31

Pakistan

17.180.237

16.153.798

+6,35

Ba Lan

17.133.391

25.573.704

-33,00

Campuchia

15.909.634

14.802.042

+7,48

Thuỵ Điển

15.402.965

16.539.133

-6,87

Séc

14.396.957

11.159.210

+29,01

Cô Oét

11.502.652

11.569.075

-0,57

Hy Lạp

9.561.454

12.552.613

-23,83

Ucraina

8.532.475

35.368.903

-75,88

I rắc

8.092.570

6.464.089

+25,19

Thổ Nhĩ Kỳ

7.027.119

6.448.283

+8,98

Rumani

5.832.400

8.885.426

-34,36

Indonesia

2.504.114

4.897.783

-48,87

Brunei

1.229.337

1.285.000

-4,33

 

Theo nhanhieuviet/Bộ Công Thương